
CHƯƠNG I: LỊCH SỬ CHUỖI HẠT PHẬT GIÁO
1/Khởi nguyên của chuỗi hạt:
* Không có mốc thời gian cụ thể, có tài liệu cho rằng chuỗi hạt trong Phật giáo xuất hiện từ thời Đức Phật còn tại thế, thể hiện qua hai sự kiện.
- Sự kiện thứ nhất chính là việc Ngài Vô Tận Ý dùng chuỗi Anh lạc dâng lên cúng dường Đức Phật Thích Ca và Phật Đa Bảo trong bảo tháp sau khi hoan hỷ tiếp nhận lời dạy về công hạnh của Ngài Quan Thế Âm Bồ tát. Sự kiện này được ghi chép khá tỉ mỉ trong kinh Pháp Hoa, ở phẩm Phổ môn.
- Sự kiện thứ hai nhắc đến chuỗi hạt khi vua Ấn Độ Tỳ Lưu Ly thỉnh Đức Phật Thích Ca dạy cho pháp môn diệt trừ phiền não, Phật dạy nhà vua dùng hạt một loại cây gọi là “Vô Hoạn tử” hay còn gọi là “Bồ Đề tử” xâu thành chuỗi để niệm danh hiệu Phật thì sẽ tiêu trừ mọi phiền não. Nguyên văn lời dạy của Đức Phật được chép trong kinh như sau: “Nếu nhà vua muốn diệt phiền não chướng, thì phải xâu 108 hột Mộc Hoạn tử, thường mang theo mình, hoặc đi, hoặc ngồi, hoặc nằm, luôn luôn phải hết lòng xưng niệm danh hiệu Phật đạo (Phật) Đạt ma (Pháp), Tăng già (Tăng) không để cho tâm ý phân tán” (Đại Chính Tân Tu Đại Tạng kinh, tập 17, trang 726).
* Ngoài ra, theo Tục Cao tăng truyện (Đại Tạng Kinh, tập 50, quyển thứ 20, truyện Đạo Xước), sau khi Đức Phật nhập diệt khoảng 800 năm, ở Trung Hoa chuỗi hạt trở nên khá phổ biến và được sử dụng chủ yếu như một pháp khí trong pháp môn niệm Phật. Điều đó thể hiện qua chi tiết được ghi lại: “nhiều người lần chuỗi, miệng đồng niệm danh hiệu Phật” (Tục Cao tăng truyện).
* Qua những chi tiết như vừa nêu, rõ ràng chuỗi hạt có mặt trong đời sống tu tập của hàng đệ tử xuất gia cũng như cư sĩ tại gia từ thời Đức Phật tại thế. Chưa giải thích nhiều về chủng loại, số lượng cũng như cách thức hành trì, ngược lại Đức Thế Tôn đã phần nào chỉ ra mục đích sử dụng và công năng hữu ích của của chuỗi hạt trong chế ngự sự loạn tâm và trong việc tăng trưởng niềm tin, tác tạo phước đức. Đây chính là những tiền đề cơ bản để ngày nay chuỗi hạt trở nên phổ biến không chỉ trong đời sống tâm linh mà cả trong sinh hoạt hàng ngày của nhiều người dù không hẳn là Phật tử hay có cảm tình với Phật giáo.
2/ Ý nghiã số hạt trong phật giáo:
1/ Chuỗi 108 hạt là biểu thị cho cầu chứng 108 pháp Tam Muội mà đoạn trừ 108 phiền não.
2/ Chuỗi 54 hạt là biểu thị cho 54 cấp vị quá trình tu hành của Bồ Tát, tức là Thập Tín, Thập Trú, Thâp Hạnh. Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Tứ Thiện Căn Nhân Địa.
3/ Chuỗi 42 hạt là biểu thị cho 42 cấp vị quá trình tu hành của Bồ Tát, tức là Thập Trú, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa và Đẳng Giác, Diêu Giác.
4/ Chuỗi 27 hạt là biểu thị cho 27 cấp vị của Tiểu Thừa tu hành Tứ Hướng Quả, tức là 18 bậc Hữu Học của Tứ Hướng Tam Quả trước, với 9 bậc Vô Học của Đệ Tứ Quả A La Hán.
5/ Chuỗi 21 hạt là biểu thị cho 21 vị, tức là Thập Địa, Thập Ba La Mật và quả vị Phật.
6/ Chuỗi 14 hạt là biểu thị cho 14 Pháp Vô Úy của Bồ Tát Quán Thế Âm.
7/ Chuỗi 1.080 hạt là biểu thị cho 10 cảnh giới, mỗi cảnh giới đều có 108, cho nên cộng thành 1.080.
huỗi đeo tay, vật trang sức quá quen thuộc và phổ biến của nhiều bạn trẻ. Thế nhưng, đằng sau nét đẹp hình thức bên ngoài dường như vẫn có mối liên hệ nào đó đến yếu tố tâm linh khi có khá nhiều bạn trẻ đã tìm và chọn cho mình những xâu chuỗi hạt Phật giáo. Một "mốt" thời trang mới, hay là một điểm tựa tinh thần?
3/Chuỗi đeo tay và xâu chuỗi Phật giáo
Có khá nhiều bạn trẻ ngày nay đang "sở hữu" một sợi chuỗi đeo tay, hoặc do tự mình tìm mua lấy, hoặc do bạn bè tặng. Những chuyến đi du lịch thường được đánh dấu bằng một món quà cho ai đó. Bạn sẽ nghĩ đến những sợi dây đeo tay xinh xắn. Đa dạng về chủng loại này là những chuỗi đeo được kết từ những hạt cườm. Số hạt tùy thuộc vào kích thước lớn nhỏ khác nhau, không quy định chặt chẽ về số lượng, vì chúng chỉ đơn thuần là một món đồ trang sức. Màu sắc cũng thật đa dạng và phong phú. Thế nhưng, điều thú vị là hiện nay, trên thị trường đồ trang sức của giới trẻ, bên cạnh những chuỗi đeo tay thời trang nhiều màu sắc, đã xuất hiện những xâu chuỗi Phật giáo, hoặc mô phỏng sắc màu của chuỗi Phật giáo. Nhiều bạn trẻ đã không ngần ngại, thậm chí còn hào hứng chọn đeo, đầu tiên chỉ vì phong cách là lạ mới mẻ, chứ cũng không hiểu tường tận về ý nghĩa và chức năng của xâu chuỗi Phật giáo.
Theo quý thầy cho biết: chuỗi hạt là một pháp khí của nhà Phật, là một phương tiện để "cột tâm", đối với những người mới bước chân vào con đường tu hành. Nói dễ hiểu thì chuỗi hạt hay tràng hạt (chữ Hán là sổ châu, niệm châu) dùng để niệm danh hiệu Phật. Với vai trò đó, chuỗi hạt Phật giáo cũng mang ý nghĩa thể hiện về mặt hình thức như số hạt, màu sắc, chất liệu… Chuỗi Phật giáo đặc biệt có quy định về số hạt trong một chuỗi. Có nhiều loại chuỗi hạt khác nhau: loại 14 hạt, 21 hạt, 42 hạt, 54 hạt, 108 hạt,… Mỗi số hạt đều biểu thị một ý nghĩa nhất định. Trong mỗi chuỗi có một hạt "mẫu châu" để làm mốc trong khi lần hạt.
Theo các kinh ghi lại thì chuỗi hạt được làm từ nhiều nguyên liệu khác nhau: hạt bồ đề, hạt kim cang, hạt sen, ngọc, thủy tinh, đồng dỏ, vàng bạc…
I. 佛珠的历史 (第一资料)
佛珠,顾名思义是佛教所用之珠,他与佛教密不可分,与佛教的历史有着千丝万缕的联系。
一般认为,佛教使用念珠的时代,可以追溯到公元2世纪左右。虽然佛珠已经是佛教的标识之一,但若追溯本源,佛珠却并非为佛教所创。因为,尽管北传佛典中有关念珠的记载并不少见,但在以律典为所依的南传佛教中,却未见佛珠的流行。
点击查看原始图片
佛珠的由来
关于佛珠的起源,《》中记载,佛陀率领弟子大比丘众,在王舍城东北部的山中修法时,难国波流离王派遣使者来到佛所,顶礼佛足,对佛哀求说:“世尊!我国边小,频岁寇贼,五谷勇贵,疾病流行,人民困苦,我恒不得安卧。如来法藏,多悉深广,我有忧务,不得修行。唯愿世尊,特垂慈愍。赐我要法。使我日夜易得修行。未来世中。远离众苦。”
佛陀便告诉难国使者,回去对波流离王说:“若欲灭烦恼障报障者,当贯木患子一百八,以常自随,若行若坐若卧,恒当至心无分散意,称佛陀达摩僧伽名,乃过一木患子,如是渐次度木患子,若十若二十,若 百若千,乃至百千万,若能满二十万遍,身心不乱,无诸谄曲者,舍命得生第三焰天,衣食自然,常安乐行,若复能满一百万遍者,当得断除百八结业,始名背生死 流,趣向泥洹,永断烦恼根,获无上果。”
使者返回后,将佛陀的指示告知了波流离王,王大喜:“大善!我当奉行。”随即安排制作了千具念珠。六亲国戚,皆与一具。波流离王时常诵念,虽日理万机,亦不废置。
至此我们知道了,原来佛珠是由波琉璃王所制造的,这也是目前最为公认的版本。不过,《佛说木槵子经》的作者姓甚名谁,已经无法考证了,我们姑且不对此段历史的真假做以评价。
佛珠在中国
佛教大约于两汉时期,分别由西域和海上丝绸之路,传入中国。学术界认为,汉哀帝元寿元年(前2年),大月氏王使臣伊存口述《浮屠经》,自此为佛教传入汉地之始,佛珠也随之一同传来到中国。
魏晋南北朝时期,佛教兴盛,异域来华的佛教僧侣逐渐增多。例如,当时著名的鸠摩罗什,在长安,也被后秦君主姚兴尊为国师。他们组织领导僧众翻译佛经,讲经说法,为当时文人士大夫所敬仰。佛教在此时的兴盛,也使得佛珠备受大家的追捧。时至隋唐,由唐代天竺僧人阿地翟多翻译的《陀罗尼集经》、宝思惟翻译的《校量数珠功德经》、不空三藏翻译的《金刚顶瑜珈念珠经》等记载有关佛珠的佛教经典,被广泛传播。直至后来,清朝大小官员所佩戴的朝珠,也与佛珠大有渊源。
此外,在日本保存下来的《佛像图鉴》唐代绘制的高僧像中,持用佛珠者,不胜枚举,比比皆是。可以肯定的说,唐代以来,国人使用佛珠已经司空见惯,不再是个别现象,佛珠已经在朝野上下,僧俗之间普遍流传开来,如同宋代苏东坡也曾形象的也到的那样:“捧经持珠,杖则倚肩,植仗而起,经珠乃闲”。
II. 佛珠的历史 (第二资料)
佛珠已经成为中国、日本、韩国、泰国等地的僧尼居士所携带使用的重要法器,甚至成为佛教徒的一项重要标志。佛教经典记载佛珠的起源,一般以《木槵子经》所载佛陀对波流离王的启示为通说。经文中写道:“佛告王日:‘若欲灭烦恼障报障者,当贯木槵子古代的佛像一百八,以常自随,若行,若坐,若卧,恒当至心无分散意,称佛陀、达摩、僧伽名,乃过一木槵子,如是渐次度木槵子,若十,若二十,若百,若干,乃至百千万。’’’由此看来,波流离王用木槵子制造佛珠,持念“三宝”——佛陀、达摩、僧伽(即佛、法、僧)之名,用以消除烦恼障和报障,这是佛教念珠的起源。
根据佛经记载,持有佛珠的本尊是毗俱胝菩萨。毗俱胝在梵文中是皱眉头的意思。佛经记载,有一天在佛陀的说法大会上,观世音菩萨的额头皱纹中突然化现出一个菩萨,十分的威猛雄壮,做大悲怒状。当时诸金刚很是畏惧,纷纷逃到佛陀的莲座下寻求救助。于是,佛陀对这尊菩萨说:“您且止住。"这尊菩萨立即止住不动,说:“唯佛所教敕,吾当奉行!”他就是毗俱胝菩萨。在佛教中,毗俱胝菩萨代表着大悲者,具有不可抗拒的大威势力。这尊菩萨额上有眼,有四只手臂,左边一手举着莲花,一手拿着净瓶,右边一手结施无畏印,另一手把持的就是佛珠。
佛珠最初是由古印度人以璎珞宝珠作为项链等装饰品逐渐演变而来的,古印度的婆罗门教在佛教之前就开始使用念珠,印度出土的公元2世纪以前的婆罗门像中已有项悬念珠的了。在佛教之前,印度的事火外道的本尊就已手持念珠,佛教徒大约在公元2世纪中叶后开始使用念珠。佛教早期比丘使用串珠用以记数、摄心。当时串珠为三十粒,黑白相间,用以记日。
III. 佛珠数量的含义
一、念珠按品级划分,念珠可分四品: 1、最上晶为一千零八十粒。但这种念珠因太长,仅为少数高僧大德和潜修人者使用,或为名僧在大法会中作为装饰品,此外极少人使用。 2、上品为一百零八粒。密宗行者用一百一十粒。为修行中记数方便,现也有穿为二百一十六粒或三百六十粒的。 3、中品为五十四粒。 4、下品为二十七粒。
二、按粒数划分,念珠可分为十种:(1)、一千零八十粒:(2)、一百零八粒:(3)、五十四粒(4)、四十二粒:(5)、三十六粒;(6)、三十三粒;(7)、二十七粒:(8)、二十一粒;(9)、十八粒;(10)、十四粒。
三、念珠不同的粒数,又有其代表的意义: 1.一千零八十粒,包括十法界的一百零八个数。“十法界”指迷与悟的世界,分为十种类,即六凡界和四圣界:①.地狱界:②.饿鬼界:③.畜生界:④修罗界:⑤人间界:⑥.天上界:⑦.声闻界:⑧.缘觉界:⑧ 菩萨界;⑩.佛界。前六界为凡夫的迷界,即六道轮回的世界,后四界是圣悟者的悟界,超陀人间。 2、一百零八粒,代表断除一百零八种烦恼,而证得一百零八种无量三昧。三昧即是心安住于一境的寂静状态而不散乱,也就是正定中的境界。百八三昧是指大乘菩萨所修的首楞严三昧,宝印三昧,妙月三昧,狮子游戏三昧,无住三昧,妙行三昧,观顶三昧,欢喜三昧,宝聚三昧,释名三昧,无去三昧,无憎爱三昧,净相三昧,灭相三昧等一百零八种三昧。 一百零八种烦恼即众生之烦恼种种,能生种种恶业。是由六根(眼耳鼻舌身意)各有苦、乐、舍三受,合为十八种:又六根各有好、恶、平三种,合为十八,总共为三十六种,配以过去、现在和未来合为一百零八种烦恼。 一百零八种烦恼又称一百零八种结业。也解释为三界之见惑有八十八使,即贪,嗔,痴,慢,疑,身见(执取五蕴根身),边见(执取常断见),邪见(谤无冈果,坏渚善果事),见取见(执持成见,非果计果),戒禁取见(执持不戒,非冈计因),合称九十八随眠,再加上无惭,无愧,嫉,悭,悔,睡眠,掉举,昏沉,嗔忿,覆等十缠,便成一百零八种烦恼。一百零八粒也可表示一百零八尊佛的功德,或表示本有:的五十四个阶位和修证的五十四个阶位,当然还有其它含义。宋朝陈善在《扪虱新语》里记载:韩愈问大颠和尚的岁多数,大颠笑着提起念珠说:“昼夜一百八。”语含机锋。 3、五十四粒,是表示菩萨修行过程的五十四阶位,即表示十信.十住,十行,十回向, 十地,再加上四善根。 4、四十二粒.是表示菩萨修行的四十二个阶位,即十住,十行,十回向,十地,加上等觉和妙觉。 5、三十六粒,含义与一百零八粒相同,为携带方便遂三分之为三十六而制。 6、在藏密中也有三十三粒的念珠,或表示观音菩萨的三十三种化身,或表示三十三天。 7、二十七粒,是表示小乘修行四向四果的二十七贤位,即前四向三果的“十八有学”和第四果阿罗汉的“九无学”。 8、二十一粒,是表示本有十地与修生十地和佛果,或表示十地,十波罗密和佛果。 9、十八粒,意义与一百零八粒同,为携带方便,遂六分之为十八;或谓十八界,即六根,六尘,六识。 10、十四粒表示观音菩萨的十四无畏。观音菩萨以金刚三昧无作妙力(不作意之力用)与诸十方、三世、六道等一切众生同一悲仰,令众生获十四种无畏功德:或也可表示《纯王经》所说的十四忍。
四、念珠结构分为两大类: l、单组念珠。即一串念珠由一粒母珠和其它不同数目的子珠组成。 2、复组念珠。即一串念珠,除母珠和子珠外,还有隔珠(又称为数取),弟子珠(又称为记子),记子留,或一些饰物。 母珠通常只有一粒,也有两粒的。唐蜜修法的念珠为两粒母珠,代表自度度他。一百零八颗的,和五十四颗的念珠,每二十七粒用一隔珠:二十七粒的每九粒用一隔珠:十八粒的每六粒用一隔珠。
弟予珠一般体积较小,有十粒或二十粒.系串在母珠前另一端.以十粒为一小串的,表示布施、持戒、忍辱、精进、禅定、般若、方便、愿、力、智十种波罗密。弟子珠也可用来记数之用,每念一串珠,拨一粒弟子珠。
CHƯƠNG II: 佛珠手串规格的选择. LỰA CHỌN QUY CÁCH CHUỖI VÒNG TRÀNG HẠT.

